Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa nhật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa nhật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

Văn hóa Nhật bản trong việc tiếp khách

, van hoa nhat, van hoc nhat ban trong viec tiep khach, văn hóa nhật bản trong việc tiếp khách, văn hóa, van hoa, van hoa nhat, văn hóa nhật, văn hóa, van hoa, văn hóa nhật bản, van hoa nhat ban, tim hieu van hoa nhat ban, tìm hiểu văn hóa nhật bản, tim hieu van hoa nhat ban, học văn hóa nhật, hoc van hoa nhat,
Trong giao tiếp truyền thống của người Nhật có những quy tắc, lễ nghi mà mọi người đều phải tuân theo tùy thuộc vào địa vị xã hội, mối quan hệ xã hội của từng người tham gia giao tiếp. Những biểu hiện đầu tiên trong quá trình giao tiếp của người Nhật là thực hiện những nghi thức chào hỏi. Tất cả các lời chào của người Nhật bao giờ cũng phải cúi mình và kiểu cúi chào như thế nào phụ thuộc vào địa vị xã hội, từng mối quan hệ xã hội của mỗi người khi tham gia giao tiếp. Cách tiếp khách trong công ty Nhật
Sau khi được nhận và làm việc tại công ty Nhật, những nhân viên trong công ty sẽ được hướng dẫn những kỹ năng cơ bản để trở thành người nhân viên chính của công ty. Những kỹ năng cơ bản nhưng cũng rất quan trọng trong công ty bao gồm:

I. Hướng dẫn khách:
văn hóa, van hoa, van hoa nhat, văn hóa nhật, văn hóa, van hoa, văn hóa nhật bản, van hoa nhat ban

1. Lên xuống cầu thang:

Khi lên cầu thang khách hàng sẽ bước lên trước, nhân viên phải đi phía sau. Nhưng ngược lại, khi xuống cầu thang nhân viên phải bước xuống trước, khách hàng đi phía sau.

2. Trong hành lang:
Phải đi trước khách, cách một đoạn nhưng phải so le với khách, không đi ngay trước mặt khách, tránh che tầm nhìn của khách. Thêm vào đó, thỉnh thoảng ngoái lại phía sau xác nhận, xem bước đi của khách để điều chỉnh nhịp độ cho phù hợp.

Khi đến chỗ quẹo của hành lanh nhân viên phải dừng lại và quay lại phía sau và thưa với khách 「こちらに参ります。」( xin đi hướng này ạ), đồng thời dùng hai tay mời khách  theo hướng phải quẹo.
văn hóa, van hoa, văn hóa nhật bản, van hoa nhat ban, tim hieu van hoa nhat ban, tìm hiểu văn hóa nhật bản, tim hieu
II. Cách mở cửa phòng cho khách:

Dùng tay trái mở cửa, đồng thời nói với khách một cách nhã nhặn 「どうぞ」(Xin mời  (ông/bà) vào ). Và sau khi khách bước vào phòng, dùng tay phải đóng cửa lại.

Khi khách về thì dùng tay trái mở cửa và đứng giữ cửa cho đến khi khách ra khỏi phòng mới đóng cửa lại.
văn hóa nhật bản, van hoa nhat ban, tim hieu van hoa nhat ban, tìm hiểu văn hóa nhật bản, tim hieu van hoa nhat ban,
III. Cách mời trà:

-    Sau khi gõ cửa, lịch sự nói「失礼いたします」(tôi xin phép) mới bước vào phòng.

-    Nhẹ nhàng đặt khay đựng tách trà phía dưới chân bàn (trường hợp bàn thấp kiểu Nhật).

-    Dùng cả hai tay để nâng chén (tách) trà.

-    Nhỏ nhẹ nói với khách「どうぞ」(xin mời), đồng thời dùng tay phải nâng tách trà. Điều quan trọng là phải quay mặt có hoa văn về phía khách (trường hợp không dùng tay phải được thì dùng tay trái cầm tách trà cũng được nhưng phải  nói 「こちらから失礼します」- xin thứ lỗi).
van hoa nhat ban, văn hóa nhật bản, văn hóa nhật, van hoa nhat, van hoc nhat ban trong viec tiep khach, văn hóa
-    Úp ngược khay đựng trà và ôm trước ngực, một cách nhẹ nhàng đi lui ra ngoài, đồng thời gật đầu cúi chào và nói「失礼いたしました」.

-    Nếu câu chuyện kéo dài, phải pha thêm trà mới và mang ra thay cho phần trà cũ đã vơi đi.

-    Sau khi tiễn khách ra về, không quên quay trở lại phòng khách để dọn dẹp chén tách.
văn hóa nhật bản, văn hóa nhật, van hoa nhat, van hoc nhat ban trong viec tiep khach, văn hóa nhật bản trong việc tiếp khách, văn hóa, van hoa, van hoa nhat, văn hóa nhật, văn hóa, van hoa, văn hóa nhật bản, van hoa nhat ban, tim hieu van hoa nhat ban, tìm hiểu văn hóa nhật bản, tim hieu van hoa nhat ban, học văn hóa nhật, hoc van hoa nhat, dac diem van hoa nhat ban

Thứ Tư, 24 tháng 4, 2013

Bánh Wagashi - tinh hoa trong văn hóa ẩm thực Nhật Bản

Wagashi với đời sống của người dân Nhật Bản
Hương vị tinh tế, màu sắc phong phú, tràn đầy ẩn ý… những chiếc bánh cổ truyền của xứ Phù Tang – có tên gọi chung là wagashi.

 
Wagashi là những tác phẩm nghệ thuật nho nhỏ làm thỏa mãn nhu cầu sâu xa về cái đẹp của khách ẩm thực. Nó có thể là một cánh bướm nhỏ, một nụ hoa anh đào chớm hé, một chú họa mi xinh xinh… chỉ vài chiếc bánh đã đủ làm cho người ta cảm thấy mùa xuân đâu đây đang tới gần. Nhưng không chỉ có mùa xuân, “mùa nào thức ấy “, những chiếc bánh wagashi thường thay đổi theo mùa về hình dáng, về màu sắc, về thành phần, về hương vị. Wagashi có thể làm từ bột mì, bột gạo, bột các loại đậu trắng, đậu xanh, đậu đỏ… Thêm vào đó là những thứ trái cây sấy khô các loại thạch tảo, nước trái cây..cho bánh nhiều hương vị khác nhau.

Wagashi tượng trưng cho sự chung sống hài hòa với thiên nhiên. Người làm wagashi luôn lấy cảm hứng từ thiên nhiên bốn mùa của trời đất, từ văn chương, nghệ thuật, thơ ca. Những cơn mưa hè mát mẻ theo sau những đóa hoa xuân, qua mùa thu sắc vàng lại đến những bông tuyết tinh khiết đầu đông… người làm wagashi sáng tác không ngừng.
 
Lịch sử hình thành loại bánh Wagashi

“Wa” có nghĩa là Nhật Bản, còn “gashi” – điệp âm của kashi – mang ý nghĩa bánh ngọt. Wagashi xuất hiện từ thời Yayoi (300 TCN – 300), nhưng khi đó chúng không khác gì với các loại quả, dâu và các hạt tự nhiên. Suốt kỷ nguyên Nara (710-784), wagashi bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các phương thức chế biến lương thực du nhập từ Trung Quốc cùng nền văn hoá Phật giáo. Kiểu dáng của hầu hết các loại wagashi ngày nay đều bắt nguồn ở giai đoạn này. Tuy nhiên, lúc bấy giờ chúng được sử dụng chính yếu vào mục đích tôn giáo và quá đắt đỏ đối với với tầng lớp bình dân. Đến cuối kỷ nguyên Muromachi (1336-1573), khi Nhật Bản mở cửa giao thương với nước ngoài, cách chế biến wagashi lại bị ảnh hưởng bởi công thức và các thành phần nguyên liệu du nhập từ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Sự xuất hiện của đường ăn đã làm nên một cuộc cách mạng trong công thức chế biến wagashi, yếu tố đã ảnh hưởng đến hương vị tự nhiên cũng như làm đòn bẩy cho sự phát triển của chúng đến tận bây giờ. Cho đến thời Edo (1603-1867), nghệ thuật làm wagashi mới trở nên thịnh hành. Ngành kinh doanh buôn bán wagashi đã trải qua và phát triển mạnh mẽ tại Kyoto, Edo cũng như các vùng khác. Các loại wagashi hảo hạng đã xuất hiện trong giai đoạn này. Mục đích sử dụng wagashi cũng đa dạng hơn. Chúng bắt đầu xuất hiện trong các tiệc trà, các bữa ăn chiều nhẹ và còn được dùng làm quà biếu. Suốt thời Minh Trị (1868-1912), việc du nhập các món tráng miệng và các loại bánh ngọt phương Tây đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của wagashi. Đến cuối thời Taisho (1912-1926), từ “wagashi” mới hình thành để phân biệt với các loại bánh Tây khác. Mặc dù bị ảnh hưởng bởi nhiều nền văn hoá ngoại lai trong nhiều thế kỷ nhưng wagashi vẫn luôn mang trong mình ý thức nghệ thuật của dân tộc Nhật.

Mặc dù bánh Wagashi bị ảnh hưởng bởi văn hóa nước ngòai trong những thập kỷ vừa qua nhưng chúng vẫn được những nét văn hóa riêng của Nhật và tiếp tục trở thành 1 phần ko thể thiếu trong văn hóa Nhật.
Thành phần chính của Wagashi

Các nguyên liệu dùng chế biến wagashi thường có nguồn gốc từ thực vật và rất giàu chất xơ như các loại đậu, bột nếp, bột mì, bột gạo, khoai tây, vừng, katen (một loại thạch làm từ rong biển), đường ăn,… Wagashi có được sự phong phú, đa dạng phần lớn do các phương thức chế biến và thành phần nguyên liệu tạo nên.
Ở Nhật có hàng trăm loại wagashi khác nhau, mỗi loại có thành phần riêng biệt , nhưng nhìn chung chủ yếu đc làm từ các nguyên liệu chính rất quen thuộc đối với người Nhật.
1.Azuki (đậu)

Có 2 loại azuki là red azuki ( đậu đỏ) và white azuki ( đậu trắng) . Đậu ở Nhật được trồng và thu hoạch theo phương pháp đặc biệt, Khi làm wagashi, người ta nấu chúng thành những hỗn hợp đặc, nhão được gọi là “An ” . Thông thường, “An” được dùng làm nhân của wagashi
2. Kanten
Một nguyên liệu màu trắng làm từ tảo biển , rất giàu chất xơ, được dùng để làm các món wagashi giống như thạch rau câu như Yokan
3.Wasambon
Đường chuyên dùng để làm wagashi , được chế đặc biệt từ những cây mía ở Tokushima. Có vị rất thanh .
Một vài loại wagashi điển hình
4.Namagashi
Một loại bánh được làm thủ công và tùy theo mùa mà sẽ có những cách trang trí khác nhau. Hình dạng của namagashi gợi nhớ đến hình ảnh 1 nước Nhật với 4 mùa tươi đẹp. Đó là hình ảnh của hoa lá đam chồi nảy lộc khi xuân về , của cây lá xanh tươi mùa hạ, màu rực lửa của cánh rừng mùa thu và sức sống mãnh liệt cảu hoa mận mùa đông.
Hai nguyên liệu được sử dụng làm namagashi là mochi (gạo hấp giã thành bột nhão) và một loại bột nhào làm từ đậu đỏ, đôi khi được thay bằng đậu trắng. Các kiểu dáng thanh nhã của namagashi đã phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau của thiên nhiên bốn mùa tại Nhật Bản. Chúng gợi lên sự hứa hẹn của mùa xuân qua các chồi non e ấp, giọt sương trên những chiếc lá xanh mùa hè, vẻ đẹp rực rỡ của tán lá mùa thu và cảm xúc mãnh liệt của những chùm hoa mận lúc đông sang.
5.Yokan

Một loại bánh có vị giống thạch , được làm từ đậu đỏ, kanten và đường, rất phổ biến vào mùa hạ. Món bánh này rất phổ biến vào thời Edo và thường đc dùng làm quà tặng.
Yokan là một loại bánh rau câu dày được làm từ bột đậu azuki (đậu đỏ), katen và đường; Yokan là một trong số những loại bánh truyền thống Nhật Bản phổ biến nhất đã phát triển trong suốt thời Edo vì khi đó đường ăn đã trở nên tiện dụng. Nó có thể bảo quán lâu hơn và thường được dùng làm quà biếu.
6.Monaka
Monaka là loại bánh có lớp vỏ mỏng, xốp giòn làm từ bột nếp, ở giữa kẹp nhân đậu đỏ. Vỏ bánh thường được làm thành hình hoa anh đào hoặc hoa cúc.
7.Manju

Một dạng bánh hấp nhỏ. Bột nhào làm từ jojo (củ từ) hoặc bột mì hấp, rồi nặn thành một chiếc bánh bao nhỏ ở giữa là nhân đậu xay.
8.Higashi (Wagashi khô)
Làm từ bột gạp nếp, đường được đánh tơi. Hỗn hợp bột nếp, đường, tinh bột hoặc wasambonto (loại đường ăn lâu đời nhất của Nhật Bản được làm từ một giống mía hiếm tại quận Tokushima) được nén vào khuôn để tạo thành những chiếc bánh in khô.
Trên thực tế, người ta không thể thống kê hết các loại wagashi vì mỗi loại đều có cách thể hiện độc đáo, riêng biệt. Các kỹ thuật làm bánh bằng tay truyền thống cũng giúp người thợ có thể tự do chuyển tải cảm xúc, thể hiện ý tưởng của mình và tô điểm thêm cho vẻ ngoài của wagashi khiến chúng trở thành đoá hoa muôn hương ngàn sắc trong nghệ thuật ẩm thực Nhật Bản. Riêng bản thân wagashi cũng thể hiện nhiều vẻ đẹp khác nhau của thiên nhiên qua hình dạng nhỏ bé của mình.
9.Hanabiramochi

Một món bánh rất hay đc người Nhật ăn vào dịp đầu năm mới . Tên gọi Hanabiramochi thực chất có nghĩa là ” loại bánh có hình dạng cánh hoa” ^ ^
Món này có nguồn gốc từ Hishihanabira ( một món bánh được Hoàng gia ăn vào dịp năm mới) , nó trở nên phổ biến vào thời Minh Trị
10.Taiyaki
Bánh cá nướng , thường có nhân đậu đỏ , ăn vào những khi trời lạnh, là món quà mà trẻ em và người già rất ưa thích .
Không thoát khỏi ảnh hưởng của kiểu sinh hoạt truyền thống theo khí tiết, wagashi cũng được làm để miêu tả các sự kiện theo mùa. Sự chuyển đổi về mùa được đánh dấu qua mỗi loại wagashi đặc trưng. Chẳng hạn Sakura Mochi (bánh hoa anh đào làm từ gạo) và Kashiwa Mochi (bánh bột gạo gói lá sồi) chỉ có trong mùa xuân. Các loại wagashi mùa hạ thì lại mang hình dáng của những bông hoa tú cầu, hay chứa nhiều độ ẩm (như Mizuyokan) để xua đi tiết trời oi ả những ngày nắng nóng. Vào mùa thu, wagashi lại chuyển tải vẻ nhẹ nhàng lãng mạn của thiên nhiên qua kiểu dáng của những bông loa kèn, bông cúc hay những chiếc lá cây vàng đỏ, trong khi đó, hoa trà, hoa thuỷ tiên hay tuyết trắng,… lại là đề tài để thể hiện xuyên suốt trong những ngày đông chí.
Với những điều thú vị trên về wagashi, các bạn đi du học nhật bản hoặc các bạn có dịp sang nhật hãy thưởng thức loại bánh này nhé.
Chúc vui vẻ!



Liên hệ tư vấn du học Nhật Bản miễn phí:       Hotline: 0905234977

Đôi nét về văn hóa Nhật Bản qua từng hành động

Cùng là người Châu Á, da vàng, tuy khác đất nước nhưng lại cùng nền văn hóa Á đông. Nhưng đôi khi nhìn ngẫm 1 số nét văn hóa trong cách sống của người Nhật chợt khiến tôi phải mỉm cười.
Chuyện tặng quà:
Người Nhật nổi tiếng là lễ nghi trong vấn đề quà tặng,1 khi nhận được quà của ai đó thì kiểu gì cũng sẽ tìm cách để đáp lễ lại. Khi đi dự đám cưới ,đám tang về thì sau đó gia chủ bao giờ cũng tặng quà lại cho khách để thể hiện sự hàm ơn vì khách đã đến dự lễ. Quà đó chỉ là những món đồ rất nhỏ nhưng luôn được bọc gói vô cùng cẩn thận và đáng yêu khiến cho người nhận cũng sẽ rất cảm kích vì sự chu đáo của gia chủ.

Chuyện xếp hàng:
Người dân xếp hàng bên ngoài một cửa hàng ở Sendai

Cho dù ở siêu thị, cửa hàng ăn, ga tàu hay những nơi dịch vụ công cộng,thì người Nhật luôn có thói quen xếp hàng. Họ có thể xếp hàng chờ trước giờ mở cửa siêu thị cả tiếng đồng hồ để chờ vào mua đồ. Cũng có lúc tôi nghĩ thật kì khôi cho sự kiên nhẫn đó nhưng có lẽ tôi lầm. Đó chính là sự tuân thủ kỷ luật của hệ thống xã hội,cũng như nét văn mình ứng xử khi biết nhẫn nhịn chờ đến lượt mình, chứ không phải chỉ biết đến cái tôi vị kỷ.


Chuyện ý thức bảo vệ môi trường:

Đó là ý thức trong cách xử lý rác thải. Từ học sinh tiểu học đã được giáo dục về việc phân loại rác cũng như ý thức bảo vệ môi trường.Nguyên liệu tái chế,hay tác hại chất thải nhà bếp chắc hẳn là những khái niệm khá xa vời đối với người Việt ta,nhưng với người Nhật thì đó là khái niệm nằm lòng.Dầu mỡ sau khi rán thay vì đổ xuống đường thoát nước thì phải được thấm sạch bằng giấy báo hoặc để đông cứng rồi mới gói lại vứt bỏ để tránh làm ô nhiễm nguồn nước thải...Đơn giản nhất là điều đó ,thế mới lý giải được vì sao không khí lại sạch sẽ thế.Là vì chính ý thức con người đã lọc sạch bầu không khí mà họ hít thở hàng ngày.

Chuyện yêu thiên nhiên cây cỏ và ca hát:

Có 1 điều chắc chắn rằng nếu bạn đi qua cửa bất cứ 1 ngôi nhà nào của người Nhật cũng thấy được bày 1 vài chậu cây hoa nhỏ ở trước cửa. Những chậu hoa nhỏ đủ màu quanh năm khoe sắc chắc là 1 thú vui ko thể thiếu của người Nhật,hẳn sẽ mang lại niềm vui mỗi khi ai đó đặt chân về đến cửa nhà.

Tôi thường xem chương trình Karaoke trên TV và thực sự là nhiều lần rơi nước mắt xúc động vì những câu chuyện và hình ảnh về con người tham gia chương trình đó. Nước Nhật là nơi đã bắt nguồn ra hình thức giải trí hát Karaoke hẳn cũng đã phần nào lý giải cho cái sự yêu ca hát của người Nhật. Trước khi đến Nhật thì cái nhìn của tôi về việc hát Karaoke hoàn toàn khác, bởi ở VN thì có lẽ đó chỉ là kiểu giải trí đặc quyền dành cho giới trẻ, chả có cụ già hay rất ít người trung niên lại đi hát Karaoke, chưa kể 1 số biến tướng tiêu cực của hình thức giải trí này.Nhưng với người Nhật thì đây hoàn toàn là 1 thú vui trong sạch, có thể hát ở quán, hát ở phòng ăn...và người già còn tích cực hơn cả lớp trẻ, đơn giản chỉ là để cùng hòa mình theo giai điệu cùng chia sẻ cảm xúc.Không phải ai cũng hát hay, nhưng họ không ngại biểu diễn trên trương trình Karaoke của TV.



Có những em học sinh, những anh công nhân, những cụ già lom khom vẫn lên hát để gửi tặng gia đình người thân. Hình ảnh 1 cụ già 85 tuổi dáng người cong,vẫn cất cao giọng hát điệu nhạc truyền thống Nhật bản, và thật không ngờ cụ lại được ban giám khảo cho số điểm cao nhất, đôi mắt rơm rớm tay run run đón nhận quà và trò chuyện cùng ban giám khảo mà khuôn mặt cụ ngời ngời hạnh phúc. Bất giác chợt khiến tôi liên tưởng đến hình ảnh của khát vọng sống. Sự khích lệ của tình người là 1 món quà xúc động vô giá cho cụ niềm vui để ý nghĩa hơn nữa những ngày dài phía trước.

Trong gió không thể lọc hết những hạt bụi bay, và đâu đó vẫn còn những điều khó ưa, tuy nhiên thiết nghĩ rằng cần phải biết lọc ra những hạt cát khỏi tâm hồn mình để cảm nhận được nhiều góc đẹp hơn.